Du Ca Trên Những Nẻo Đường Quê

Tóm tắt: Âm nhạc xuất hiện trong nhiều môi trường khác nhau, trong đó có âm nhạc đường phố, đường quê, đường làng, đường rừng, đường núi, đường sông, đường biển… vô số con đường. m nhạc đường phố nhận được sự quan tâm, ưu ái của nhiều người, kể cả nghe lẫn người làm âm nhạc. Còn âm nhạc đường quê, đường rừng, đường núi, đường sông… nói chung thường lọt vào những chuyên khảo về âm nhạc dân tộc học. m nhạc đường quê giới thiệu trong bài viết này nhằm chỉ loại hình hát Sắc bùa chúc tết của người Kinh ở huyện Phú Lễ, tỉnh Bến Tre.


Mỗi năm vào dịp tết đến, các nhóm Sắc bùa lại lên đường, rong ruổi trên con đường làng quanh co, hữu tình đến các nhà chúc tết. Nó đã trở thành một nét sinh hoạt văn hóa mang sắc thái địa phương ở huyện Phú Lễ, tỉnh Bến Tre. Theo xu hướng Đô thị hóa, xây dựng Nông thôn diễn ra nhanh chóng, hát Sắc bùa rất có thể sẽ bị thu hẹp không gian, môi trường diễn xướng, đồng thời cho thấy ý nghĩa của nó trong việc kết nối giữa quá khứ và hiện tại.


Tổng quan về hát Sắc bùa


Hát Sắc bùa là loại hình diễn xướng tổng hợp có chức năng thực hành nghi lễ diễn ra vào dịp đầu năm mới. Loại hình nghệ thuật này “mở màn” trong đêm trừ tịch (giao thừa) và kết thúc sau khi chuỗi sự kiện mừng năm mới qua đi. Thuở làng quê đang còn bình yên, ngủ quên trong thói quen văn hóa, tiếng đàn, tiếng hát, tiếng trống, tiếng phách của đội Sắc bùa có khả năng khuấy động, phá tan bầu không gian tịch mịch của đêm 30. Đội Sắc bùa đàn hát say sưa trong đêm, di chuyển từ nhà này sang nhà khác.


Một đội Sắc bùa có từ 4 đến 12 người, sắp thành hàng dọc, vừa đi vừa hát. Họ ra đi trong đêm và trở về khi trời tảng sáng. Lối diễn xướng này diễn ra suốt quá trình di chuyển cho đến lúc thực hành nghi lễ, nên có thể nói, hình thái “động” và “tĩnh” là hai đặc điểm nổi trội. Từ lúc đội hình sắp xếp chỉnh tề, đi đầu là cái kể với chiếc trống cơm đến các con xô sử dụng đàn cò, phách tiền, phách cái, hát Sắc bùa luôn phơi bày dưới dạng “động”. Loại hình nghệ thuật này sớm thể hiện nhu cầu “xã hội hóa” bằng hình thức diễn xướng đa năng, vừa mang tính chất nghi lễ, chúc tụng, vừa thỏa mãn nhu cầu giải trí. Đội hát Sắc bùa với âm thanh đặc trưng vô hình trung đã thông tin cho người nghe biết lộ trình di chuyển (lưu diễn) của mình. Cách trình diễn đó quy tụ nhiều hình thức đa dạng, từ tập hợp Lý đi đường cho đến các bài hát thủ tục, hát góp vui, hát chúc và hát lúc ra về.


Theo nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng, hát Sắc bùa có nguồn gốc từ hát Xéc bùa của người Mường. “Xéc pùa” có nghĩa là xách cồng, đánh cồng. Vào đầu năm mới, phường Pùa tập hợp nhau lại thành từng nhóm khoảng 12 người, gồm: một ông trùm – thầy thường, cùng với các thành viên sử dụng cồng đi đến từng nhà chúc tết. Họ cứ hát một bài rồi lại tấu một bài chiêng (cồng). Như vậy, Séc pùa của người Mường tổng hợp hai hình thái diễn tấu nhạc khí và diễn xướng. Xuống tới đồng bằng Bắc Bộ, nơi mà hệ sinh thái văn hóa đề cao yếu tố ca xướng, Sắc bùa trở thành loại hình diễn xướng, hát với nhạc cụ đệm, chủ yếu là trống, phách và một cây đàn nhị. Lối hát Xúc sắc xúc sẻ của trẻ em ngày xưa theo như mô tả chính là hát Sắc bùa với lời ca phân tách thành từng nhịp gồm bốn âm, gần với tính chất Vè. Trẻ nhỏ sử dụng chiếc ống tre, bên trong có những đồng tiền kẽm lắc lên hòa cùng lời hát. Vào đến vùng miền Trung, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh, hắt Sắc bùa có thêm sự gia nhập của trống, đàn nhị. Trên thực tế, ở hát Sắc pùa Mường đã xuất hiện đàn nhị trong lối hát đối đáp. Sau khi phường Pùa tới nhà gia chủ chúc tết, nếu chủ nhà thịnh tình mời đoàn ở lại dùng cơm, hát Sắc bùa sẽ mở rộng tiết mục thành hát đối đáp giữa phường Pùa và chủ nhà. Khi đó, họ sử dụng một cây đàn nhị để hòa cùng giọng ca. Còn ở huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh, đàn nhị là một cây chủ lực trong nhóm Sắc bùa. Cơ cấu này đã duy trì tính ổn định khi vào tới Bến Tre, khu vực bảo tồn hát Sắc bùa cực nam của đất nước.


Như vậy, từ một dạng thức thuần nhất là xách cồng, đánh cồng, hát Sắc bùa đã trải qua quá trình tích hợp nhiều yếu tố, từ khí nhạc đến thanh nhạc, rồi gia nhập yếu tố nghi lễ trở thành loại hình diễn xướng tổng hợp. Cùng với quá trình thiên di của người Việt về phương Nam, hát Sắc bùa không ngừng bổ sung nhiều yếu tố mới, từ văn hóa Hòa Bình đến Hà Nội, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên – Huế, Quảng Ngãi vào tới Bến Tre. Vùng đất phương Nam trở thành điểm dừng chân cuối cùng của hát Sắc bùa. Hát Sắc bùa không chỉ di chuyển trên con đường làng quanh co hữu tình mà con di chuyển trên con đường thiên lý của dân tộc từ bắc vào nam và phân mảnh thành sản phẩm địa phương mang màu sắc đại đồng tiểu dị.


Nói về Séc pùa Mường, tuy là vùng cội nguồn, thượng du của hát Sắc bùa, nhưng xét về đặc điểm âm nhạc, ngôn ngữ biểu cảm của hát Sắc bùa đã biến điệu qua từng vùng miền. Nếu như tiếng Việt có thể biến chuyển âm điệu qua phương ngữ thì trên con đường từ bắc vào nam, âm nhạc hát Sắc bùa thay đổi liên tục để hội nhập với không gian văn hóa địa phương. Và trong quá trình “du ca” suốt chiều dài lịch sử, hát Sắc bùa vừa tích hợp yếu tố địa phương, vừa hình thành đặc trưng riêng. Dõi theo nghệ thuật Sắc bùa có thể lần ra dấu vết của Séc pùa Mường, đồng thời tìm thấy quá trình biến đổi để tạo ra tính chất khác biệt. Một trong những đặc trưng căn bản của hát Sắc bùa là di chuyển. Nó không chỉ di chuyển trên con đường làng, mà di chuyển trên cả trục không gian văn hóa và thời gian lịch sử để đến với hiện tại như một chứng tích của thời gian đã qua.


Trình thức trong hát Sắc bùa


Xưa kia, hát Sắc bùa kéo dài từ đêm trừ tịch tới ngày mùng 7, thậm chí có thể đến hết tháng giêng. Đội hát Sắc bùa có khoảng trên dưới 10 thành viên, ít nhất là 4 người, nhiều nhất lên tới 12 người. Họ lập thành từng nhóm có tổ chức. Trưởng nhóm đóng vai trò tập kết nhân sự, lên kế hoạch tập luyện, thậm chí có thể dạy dỗ thành viên, đồng thời kiêm “bầu sô”. Sau khi sở đắc khối lượng bài bản nhất định, đội Sắc bùa lên đường lưu diễn. Trong nhóm, có một người làm Cái kể, sử dụng trống cơm, những người khác làm Con xô, sử dụng đàn cò, sênh tiền, sênh cái.


Đứng ở hình thái diễn xuất, hát Sắc bùa vừa diễn trên đường đi với tập hợp làn điệu Lý đi đường, vừa xảy ra tại tư gia bằng hình thức hát thủ tục, hát chúc, hát góp vui và hát chia tay. Xét về bài bản, nó gồm các bài lý, vè, hát đối đáp với cách thức một người xướng và tập thể xô. Vì thế, hát Sắc bùa không giống như những thể loại dân ca thông thường trình diễn bằng hình thức đơn ca, có thể hát tùy lúc, tùy nơi mà phải tiến hành theo trình tự, có cơ cấu, tổ chức, nghi thức, có xướng - xô, kể - đáp.


Không phải ngẫu nhiên, nhạc cụ gõ chiếm vị trí chủ lực trong loại hình nghệ thuật này. Đối với dạng thức nghệ thuật tổng hợp, quy tụ nhiều thành viên, cơ cấu tổ chức phức hợp, nhạc cụ gõ đóng vai trò giữ nhịp giúp cho mọi nguồn lực tập trung. Hình thức tổ chức trên có thể hình dung như phương thức làm việc nhóm. Để đạt tới tính thống nhất, bên cạnh vai trò thủ lĩnh của trưởng nhóm, còn phải triển khai nguyên tắc thống nhất nhằm kết hợp mọi thành viên. Ở đây, nhạc cụ gõ đã được huy động vào vai trò giữ nhịp, đàn cò với cơ cấu một thành viên đi giai điệu cùng lời hát theo phương thức bè tòng.


Về trình tự, hát Sắc bùa, gồm: hát đi đường, hát thủ tục, hát chúc, hát giúp vui và hát giã từ.


Hát đi đường chủ gồm yếu gồm các bài lý, như: Ai đi đường thẳng, Lá da lá dà, Trèo lên cây ổi, Ngó lên trên chợ Tổng Châu, Lý ông Hương, Rủ nhau xuống biển bắt cua, Lý bằng răng, Ếch kêu, Bắt con cá lóc, Cô Sáu cô Bảy manh manh…


Loại bài bản này hấp thu từ những làn điệu dân gian, sau khi du nhập hát Sắc bùa, chúng thay đổi cách thức trình diễn (tập thể), thống nhất loại nhịp (nhịp 2 theo nhịp bước chân) và kết hợp với trống cơm, sênh tiền, phách và đàn cò.


Hát thủ tục, gồm các bài: Mở cửa rào, Mở ngõ, Cõi Nam, Khai môn, Rước xuân, Chơi xuân, Tiên sư, Trừ tà, Xốc quách, Dán bùa, Dẫn bùa.


Ở phần hát thủ tục, mỗi bài đánh dấu như một mắt xích quan trọng trong hoạt động nghi lễ. Bài Mở cửa rào hát trước cửa trong lúc chủ nhà còn cửa đóng then cài, đội Sắc bùa sắp hàng bên ngoài trình bày:


Cái kể: Nhà ông cửa kín rào cao

Con xô: Tôi vô chẳng đặng đứng ngoài tôi rao

Cái kể: Hôm qua để ngõ ông chờ ai

Con xô: Hôm nay tôi tới ngõ gài khăng khăng

Cái kể: Hôm qua để ngõ ông chờ trăng

Con xô: Hôm nay tôi tới khăng khăng ngõ gài

Cái kể: Nhà ông có thằng tớ trai

Cái kể – Con xô hợp ca: Sai ra mở ngõ, đàn trai tôi hát bùa. Sai ra mở ngõ, đàn trai tôi hát bùa.


Dựa vào hệ thống bài bản hát Sắc bùa, chúng ta hoàn toàn có thể phân chia thành từng giai đoạn, như hát Mở cửa rào, khi chủ nhà bước ra chờ phía bên trong sân, đội Sắc bùa hát tiếp bài Mở ngõ, như tiếng gọi của khách, chủ nhà ra mở cửa mời đội Sắc bùa vào nhà. Trong quá trình di chuyển, tiếng đàn, tiếng hát vẫn tiếp diễn. Sau đó, đội hát trình bày các bài chính thuộc phần nghi lễ, gồm: Cõi Nam, Khai môn, Rước xuân, Chơi xuân. Bốn bài này đều mang tính chất “dẫn nhập”, đón rước nàng Xuân đến với gia chủ. Rồi tiến tới bài Tiên sư nhằm tạ ơn người thầy: “Tiên sư là tướng ở trời. Thờ khắp mọi nơi. Ta thờ chung thiên hạ…” Nhờ có người thầy dạy cho nghề nghiệp, công cụ mưu sinh, nên từ đó mới có: “Năm mới giàu sang. Gia quan tấn lộc.”


Ở hát Sắc bùa, tính chất xâu chuỗi các nghi thức trải dài qua từng giai đoạn liên quan mật thiết với nhau. Sau khi cúng Tiên sư đến nghi thức trấn yểm, với bài: Trừ tà, Xốc quách, Dán bùa, Dẫn bùa. Đây là bước quan trọng, chiếm vị trí trung tâm của nghi lễ. Điểm khác biệt của hát Sắc bùa Phú Lễ nằm ở hoạt động trấn yểm. Nó là sản phẩm gia nhập sau bước chân xê dịch của cư dân, từ đó làm thay đổi căn bản loại hình nghệ thuật diễn xướng.


Vậy, tại sao hát Sắc bùa miền Nam lại có thêm hoạt động bùa chú? Có lẽ, vì vùng đất mới phương Nam xuất hiện nhiều thế lực (vô hình) mà công cuộc khẩn hoang ban đầu đã gặp trở ngại. Nói theo ngôn ngữ đương đại, đây xuất hiện nhiều nhóm lợi ích. Sau khi người Việt tiến vào vùng đồng bằng Nam Bộ phải thay đổi phương thức ứng xử, tiếp nhận thêm những người xa lạ làm bầu bạn, hàng xóm vốn có sự khác biệt về văn hóa. Trong bối cảnh ấy, hoạt động bùa chú như một bảo chứng tâm lý cho phép người Việt cộng sinh với những người có truyền thống khác.


Hết phần hát thủ tục, đến hát Giúp vui, đa số gồm các bài hát chúc, các bài lý, vè, như: Chúc nghề làm ruộng, Chúc nghề dệt vải, Chúc nghề thợ mộc, Chúc nghề đan lát, Chúc nghề thợ hồ, Lý đầu cần vắn, Lý đầu cầu dài, Lý lơ thơ, Lý mười hai tháng, Vè cá biển, Vè cá đồng, Vè con tôm, Vè con chim, Vè đá banh…


Cuối cùng là hát chia tay, gồm bài Giã từ, Đi ra đóng vai trò kết thúc, chấm hết cho một cuộc hát.


Xét về âm nhạc, hát Sắc bùa phân biệt rõ rệt giữa hát Thủ tục và phần còn lại. Trong hoạt động nghi lễ, thủ tục luôn mang tính chất bảo thủ. Ở đây, những bài hát thủ tục cũng tuân theo quy luật này. Qua đó cho thấy, rất có thể trong các bài hát thủ tục còn ẩn chứa mầm mống, dấu vết của loại hình nghệ thuật tiền thân. Các bài hát thủ tục khá giống nhau về tính chất âm nhạc, hàng âm đơn giản, đa số gồm 3, 4 âm, như bài: Mở cửa, Khai môn, Rước xuân, Chơi xuân, Tiên sư, Trừ tà, Dẫn bùa, Từ giã, Đi ra. Giả thiết về nguồn gốc Mường ở hát Sắc bùa có khả năng tiềm ẩn, lẩn khuất ở những bài trên.


Thay lời kết


Hát Sắc bùa là một loại hình âm nhạc có chức năng thực hành nghi lễ. Trên thực tế, loại hình âm nhạc này đóng vai trò phức hợp. Nó một mặt thể hiện chức năng chúc tụng, người yên vật thịnh, gắn với bùa chú, mang đậm màu sắc ma thuật do ảnh hưởng Đạo giáo, mặt khác biểu hiện qua hình thức du ca trên những con đường làng. Như vậy, hác Sắc bùa thể hiện trên cả hai phương diện động tĩnh về hình thái biểu hiện. Một mặt nó hướng tới những địa chỉ cụ thể để thực hiện chức năng nghi lễ, một mặt biểu hiện sống động trên cung đường di chuyển. Hai tính chất này không hề mâu thuẫn nhau, giống như nhiều loại hình âm nhạc đường phố.


Hát Sắc bùa từng đứng trước nguy cơ thất truyền vào cuối thế kỷ XX, khi lớp nghệ nhân lớn tuổi lần lượt ra đi. Công tác sưu tầm nghiên cứu, bảo tồn tiến hành nhiều năm qua đến nay đã đem lại kết quả cho sự hồi sinh của hát Sắc bùa. Trên những nẻo đường xa xôi, chúng ta vẫn còn cơ hội nghe được âm thanh đặc trưng của hát Sắc bùa gửi đến cuộc sống này bức thông điệp có từ ngàn xưa. 


Lê Hải Đăng

Sự kiện đã diễn ra